Thứ năm, 20/08/2015 | 11:33 GMT+7 - Xem: 35,240 |

Hoạt động quản lý chất lượng

Đại hội lần VI (năm 1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta, trong đó đổi mới quản lý kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm được đặt lên hàng đầu với mục tiêu chuẩn đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Lãnh đạo Bộ KH&CN, Tổng cục TCĐLCL chụp ảnh kỷ niệm với Lãnh đạo Quốc hội sau khi thông qua dự thảo Luật Chất lượng Sản phẩm, Hàng hoá

          Trong gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu nổi bật, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và chuyển sang một thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản QPPL về quản lý chất lượng như Pháp Chất lượng hàng hóa năm 1990, Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa (sửa đổi) năm 1999, Nghị định số 86/CP ngày 08/12/1995 của Chính phủ quy định phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa, Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 của Chính phủ quy định quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai hoạt động quản lý chất lượng. Các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn về quản lý chất lượng hàng hóa trong lĩnh vực, địa bàn quản lý được phân công. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa thời kỳ này cho thấy hệ thống pháp luật đã được xây dựng nhưng chưa chưa đầy đủ, phân công trách nhiệm quản lý một số đối tượng còn dàn trải và chưa phù hợp mục đích quản lý (an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khỏa, bảo vệ môi trường), một số lĩnh vực cụ thể còn chồng chéo trong hoạt động thực tiễn, chưa tiếp thu và áp dụng kịp thời khoa học quản lý tiên tiến vào hoạt động quản lý chất lượng.

          Công tác kiểm tra chất lượng hàng hóa XNK lần đầu tiên được quy định tại Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm 1990 và do các cơ quan nhà nước thực hiện. Việc kiểm tra chất lượng hàng hóa XNK được tiến hành đối với các hàng hóa thuộc danh mục phải kiểm tra do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành trên cơ sở thống nhất với các Bộ, ngành có liên quan. Cơ chế kiểm tra hàng hóa XNK được áp dụng chủ yếu là phương thức kiểm tra hàng hóa theo lô, lô hàng đạt tiêu chuẩn nhập khẩu sẽ được cơ quan Hải quan xem xét cho thông quan. Ngoài ra, để tạo sự linh hoạt trong kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu, tránh lãng phí thời gian và chi phí của doanh nghiệp và cơ quan kiểm tra, các chế độ kiểm tra khác nhau cũng đã được áp dụng như chế độ miễn kiểm tra và chế độ kiểm gia giảm. Phương thức kiểm tra theo lô hàng cũng đã gây ra sự hạn chế đối với việc thông quan hàng hóa XNK cả về thời gian và chi phí cho kiểm tra. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu “tạo thuận lợi đến mức tối đa có thể cho các hoạt động SXKD của doanh nghiệp”.

          Để góp phần xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập, Đại hội Đảng lần thứ X đã xác định một trong các giải pháp quan trọng là phải đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, hàm lượng KHCN và tỷ trọng giá trị gia tăng, giá trị nội địa trong sản phẩm, hàng hóa trong nước nói chung, sản phẩm, hàng hóa có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng xuất khẩu nói riêng.

Để triển khai giải pháp trên, vấn đề đặt ra là cần có một đạo luật thống nhất để giải quyết các tồn tại và bất cập về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Hơn nữa, hoạt động quản lý chất lượng có một quan hệ chặt chẽ với hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật mà tác động đồng bộ của chúng sẽ tạo hiệu quả cao hơn cho sự phát triển của các hoạt động kinh tế-xã hội. Cùng với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đã được Quốc hội Khóa XI thông qua, tại kỳ họp thứ 2, ngày 21/11/2007, Quốc hội Khóa XII cũng đã thông qua Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008.

Qua gần 8 năm thực hiện các quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các văn bản dưới Luật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa ngày càng được nâng lên. Sản phẩm, hàng hóa được kiểm soát chặt chẽ từ khâu trước và sau khi đưa ra thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời giúp cho hoạt động này dần đi vào nề nếp, có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, cụ thể: 

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đánh giá sự phù hợp, quản lý chất lượng theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa phù hợp với thông lệ quốc tế đã giúp cho hoạt động này dần đi vào nề nếp, có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước. 

Hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại nước ta đã được cải thiện thông qua việc quản lý chặt chẽ các sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn (sản phẩm, hàng hóa nhóm 2) bằng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành.

Đối với lĩnh vực thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-BKHCN quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn (sản phẩm, hàng hóa nhóm 2) và 07 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để quản lý các sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 như: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học (QCVN 1:2009/BKHCN);  Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy (QCVN 2:2008/BKHCN; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đối với đồ chơi trẻ em ( QCVN 3:2009/BKHCN); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đối với thiết bị điện và điện tử ( QCVN 4:2009/BKHCN); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thép làm cốt bê tông (QCVN 7:2011/BKHCN); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) (QCVN 8:2012/BKHCN; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tương thích điện từ (EMC) đối với thiết bị điện và điện tử gia dụng và các mục đích tương tự(QCVN 9:2012/BKHCN).

 Các quy chuẩn kỹ thuật trên đã góp phần đưa ra các biện pháp quản lý thống nhất đối với các sản phẩm, hàng hóa nhóm 2, đảm bảo sức khỏe, vệ sinh, môi trường cho người sử dụng.

Đồng thời, với các biện pháp kỹ thuật được các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực đưa ra cũng đã hạn chế được nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu.Với nhiều biện pháp tăng cường kiểm soát để hạn chế nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng xa xỉ hoặc trong nước đã sản xuất được, nhiều mặt hàng có khối lượng nhập khẩu giảm.

Song song với các hoạt động nêu trên, công tác kiểm tra Nhà nước đối với hàng hoá nhập khẩu đã trực tiếp bảo vệ lợi ích nhà nước và của người tiêu dùng. Qua kiểm tra đã phát hiện xử lý và ngăn chặn nhiều trường hợp nhập khẩu hàng hoá không bảo đảm chất lượng, góp phần chống gian lận thương mại, cùng các cơ quan quản lý khác của nhà nước chống thất thu cho ngân sách nhiều chục tỉ đồng.

  • Đối với doanh nghiệp:

- Nâng cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa do chính mình sản xuất, nhập khẩu.

- Kiểm soát được sản phẩm, hàng hóa do mình sản xuất, nhập khẩu.

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ như cải tiến chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng, hạ giá thành sản phẩm, mở rộng mạng lưới phân phối, gia tăng các công tác khuyến mãi... nhằm cung ứng cho người tiêu dùng những sản phẩm ngày càng có chất lượng hơn, mặt hàng phong phú hơn, mẫu mã bắt mắt hơn, mặt hàng dễ làm quen và nhất là dễ tìm mua hơn. Một số không nhỏ doanh nghiệp đã được cấp chứng chỉ phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế... Đồng thời đã tạo lòng tin và uy tín đối với thương hiệu của mình thông qua việc thực hiện các biện pháp quản lý chất lượng theo quy định tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa như công bố tiêu chuẩn áp dụng, chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy, gắn dấu hợp quy (CR) đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 2.

  •  Đối với người tiêu dùng:

- Người tiêu dùng được bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi được người bán, người sản xuất, nhập khẩu cung cấp hàng hóa không đảm bảo chất lượng như một số vụ vi phạm có phạm vi ảnh hưởng lớn tới người tiêu dùng như vụ sữa melamine trẻ em; vụ gian lận trong đo lường và kinh doanh sản phẩm xăng dầu; vụ mũ bảo hiểm không đảm bảo an toàn chất lượng...

- Người tiêu dùng được bồi thường thiệt hại do hàng hóa không bảo đảm chất lượng.

- Người tiêu dùng được lựa chọn sản phẩm, hàng hóa có chất lượng, bảo đảm an toàn cho mình trong quá trình vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hoá. Trước đây khi một số hàng ngoại nhập ồ ạt đổ vào Việt Nam với giá rẻ, phổ biến là các mặt hàng tiêu dùng, từ cácđồ điện tử, xe máy, xe đạp, điện thoại di động, cho đến các sản phẩm gia dụng, quần áo, thực phẩm, trái cây,...người tiêu dùng Việt Nam đổ xô đi mua sắm. Người tiêu dùng thấy giá cả vừa phải, chấp nhận được, còn người bán, vốn ít lời cao càng tạo cơ hội cho hàng ngoại nhập hiện diện và làm đau đầu không ít các nhà sản xuất trong nước cũng như các nhà nhập khẩu. Nhưng nay, chính người tiêu dùng đã phát hiện và cẩn thận hơn khi lựa chọn hàng ngoại nhập và đã quay sang lựa chọn hàng Việt Nam có chất lượng để sử dụng.

Website liên quan