Thứ ba, 25/08/2015 | 11:19 GMT+7 - Xem: 33,886 |

Tăng cường hài hòa tiêu chuẩn để hội nhập mạnh mẽ hơn nữa với nền kinh tế thế giới

Tiêu chuẩn cùng với quy chuẩn kỹ thuật và sáng chế được xem là những chỉ số biểu hiện tiềm năng công nghệ của mỗi quốc gia, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi xu thế toàn cầu hoá đã trở thành xu thế không thể đảo ngược được. Do đó, chúng ta khó mà hình dung ra một thế giới mà không có tiêu chuẩn cũng như khó mà hình dung việc các nước vừa mong muốn phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của mình lại vừa mong muốn sử dụng tiêu chuẩn như một thứ hàng rào kỹ thuật vì những lợi ích riêng và cục bộ.

Mối quan hệ giữa tiêu chuẩn hóa và thương mại đã được làm sâu sắc thêm qua phương châm vàng "Một tiêu chuẩn, Một thử nghiệm - Được chấp nhận ở mọi nơi", trong đó vấn đề hài hòa tiêu chuẩn nổi bật lên như một tiền đề quan trọng.

  • Hài hoà tiêu chuẩn và tiêu chuẩn hài hoà

Những năm trước đây, nhiều nước xây dựng và ban hành tiêu chuẩn quốc gia (TCQG) của mình với sự khác biệt đáng kể. Đặc biệt, sự khác biệt về mặt kỹ thuật đã từng gây ra bao nhiêu khó khăn không những cho quan hệ thương mại song phương và đa phương ở tầm vĩ mô mà còn cho những người tiêu dùng cụ thể mà khá nhiều trong số họ không hiểu biết mấy về những lý do của việc tại sao lại cứ phải có sự khác biệt như vậy. Trong khi đó, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) lại nhấn mạnh đến vai trò to lớn của các tiêu chuẩn quốc tế (TCQT) - những tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở của sự đồng thuận (consensus) - trong việc cung cấp nền tảng kỹ thuật để thiết lập nên thị trường toàn cầu và giúp cho các nước trên thế giới tận dụng tối đa các lợi ích của việc sử dụng những tiêu chuẩn này để giảm thiểu các hàng rào kỹ thuật không cần thiết đối với nền thương mại tự do. Chính vì vậy, ý tưởng "hài hòa tiêu chuẩn" (standards harmonization) đã ra đời và nhanh chóng nhận được sự ủng hộ và chấp nhận của nhiều nước để trở thành một xu thế chung trong cộng đồng tiêu chuẩn hoá (TCH) thế giới. Hài hòa TC đã trở thành một vấn đề quan trọng trong các chương trình nghị sự của nhiều hội nghị, hội thảo, diễn đàn,... quốc gia, khu vực và quốc tế. 

Bản chất của hài hoà TC là làm cho TC của các nước về cùng một đối tượng TCH xích lại càng gần nhau càng tốt (cả về thủ tục, quy trình xây dựng lẫn nội dung, hình thức thể hiện và trình bày) nhằm xoá bỏ những sự khác biệt gây ra các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với giao lưu khoa học-công nghệ và thương mại quốc tế. Điều kiện được đặt ra là: càng ít sự khác biệt về mặt kỹ thuật càng tốt; chỉ nên có sự khác biệt xuất phát từ điều kiện và nhu cầu riêng của mỗi nền kinh tế và khi đó cần xác định rõ ràng những khác biệt và lý do của những sự khác biệt đó.

Trong lĩnh vực thương mại, hoạt động hài hoà TC được hiểu là hoạt động xây dựng, ban hành và áp dụng (những) TC tương đương với nhau ở các nước khác nhau để hàng hoá được sản xuất ở một nước nào đó có thể lưu thông tự do ở (những) nước khác hiện cũng áp dụng những TC đó. Sự tương đương của các TCQG hài hoà với nhau càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi chúng cùng được xây dựng trên cơ sở chấp nhận (những) TCQT hiện hành do (những) TCQT này đã được xây dựng theo nguyên tắc đồng thuận.

Với bản chất nêu trên, hoạt động hài hoà TC ở cấp quốc gia bao gồm những công việc như sau:

- Chấp nhận TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến hiện hành thành TCQG của mình với các mức độ tương đương phù hợp;

- Tham gia xây dựng TCQT, TCKV (nếu khu vực đó xây dựng và ban hành TCKV), từ đó chấp nhận chúng thành TCQG;

- Hài hoà các thủ tục, quá trình xây dựng TCQG với thủ tục, quá trình xây dựng TC được thừa nhận quốc tế hoặc thừa nhận khu vực.

Hài hoà TC đòi hỏi sự nỗ lực chung của các cơ quan quản lý; tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; tổ chức nghiên cứu; người tiêu dùng, … nhằm tạo lập ra những TC thống nhất để áp dụng trên phạm vi toàn cầu nhằm thay thế cho những TC thuộc nhiều cấp (các quốc gia khác nhau quy định những cấp TC khác nhau). Trong giai đoạn hiện nay, khi mà hoạt động TCH quốc tế và hệ thống TCQT còn chưa đủ điều kiện và khả năng để thực hiện mục tiêu trên thì việc hài hoà TCQG với TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến (TCNN tiên tiến được hiểu là những TC có khả năng áp dụng rộng rãi trên thế giới) là một giải pháp hợp lý và chấp nhận được. Trong thực tế,  các quốc gia trên thế giới, dù có tăng cường hoạt động hài hoà TC đến mức độ cao như thế nào đi nữa thì về lâu dài, vẫn sử dụng công cụ TCH quốc gia ở chừng mực nhất định để duy trì sức cạnh tranh cho những sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đặc thù hay để bảo vệ quyền lợi quốc gia của mình.

Việc các quốc gia vẫn tiếp tục xây dựng, ban hành và áp dụng các TCQG không hài hoà là xuất phát từ những lý do sau đây:

- Sự khác biệt về thể chế pháp luật và pháp quy;

- Sự khác biệt về địa lý, văn hoá, tập quán, …:

- Sự duy trì mức độ bảo hộ nhất định đối với nền sản xuất trong nước;

- Hiện trạng của hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng chất lượng quốc gia;

v.v …

Như vậy, hệ thống TCQG của mỗi nước thường bao gồm những TCQG hài hoà với TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến và những TCQG do nước đó tự xây dựng. Tỷ lệ giữa hai loại TC này hiện rất khác nhau ở các nước khác nhau tuỳ thuộc vào chính sách, hạ tầng chất lượng và năng lực TCH quốc gia, khả năng và năng lực tham gia hoạt động TCH khu vực và quốc tế, v.v … của mỗi nước. 

Theo TCVN 6450 (ISO/IEC Guide 2), TC hài hòa (harmonized standards) (hay còn gọi là TC tương đương) là "những TC về cùng một đối tượng do các cơ quan hoạt động TCH khác nhau xét duyệt nhằm tạo ra tính đổi lẫn cho các sản phẩm, quá trình và dịch vụ, hoặc tạo ra sự thông hiểu lẫn nhau về các kết quả thử nghiệm hoặc các thông tin được cung cấp theo những TC đó".

  • Bối cảnh nền kinh tế thế giới và nhu cầu hài hoà tiêu chuẩn

Để có thể hài hoà được sự phát triển của mình trước những tác động qua lại do những biến đổi của nền kinh tế thế giới đặc biệt là quá trình toàn cầu hoá hiện nay, nhiều quốc gia và khu vực đầu tư đang phải tiến hành điều chỉnh và cải cách thể chế kinh tế cho phù hợp với xu hướng vận động của từng quốc gia. Theo xu hướng chung, các nước công nghiệp phát triển xúc tiến điều chỉnh các chính sách của nền kinh tế vĩ mô, giảm bớt can thiệp của nhà nước vào kinh tế, phát huy vai trò của kinh tế thị trường còn các nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi nền kinh tế thì tiến hành điều chỉnh cải cách thể chế sản xuất-kinh doanh, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường tự do hoặc kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Do tác động chủ yếu của làn sóng công nghệ mới đặc biệt là công nghệ thông tin, những lợi ích mang lại của tự do hoá thương mại và sự gia tăng liên kết kinh tế quốc tế và khu vực, nền kinh tế thế giới được dự báo là sẽ hồi phục trong những năm tới, trong đó khu vực Châu Á vẫn sẽ là khu vực tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng GDP trung bình hằng năm vào khoảng 5,5% ( theo đánh giá của World Bank và Asia Week). Tốc độ tăng trưởng này phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng trưởng thương mại với những diễn biến phức tạp của quá trình toàn cầu hoá, trong đó sự tham gia của các nước đang phát triển có sự gia tăng đáng kể và ngày càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong cán cân buôn bán của thế giới.

Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (hiện bao gồm 150 quốc gia thành viên) vào tháng 1/1995 đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của các hoạt động thương mại quốc tế. Sự ra đời của WTO đã góp phần tiếp tục thể chế hoá và thiết lập một trật tự mới trong hệ thống thương mại đa phương của thế giới.

Trong các quá trình phát triển nói trên, có thể nói sự gia tăng của thương mại thế giới gắn liền với sự ra đời và phát triển của các Tổ chức TCH quốc tế và khu vực trong nhiều lĩnh vực (điển hình là ISO, IEC, CAC, ITU, v v ...) và ở những giai đoạn khác nhau. Với hoạt động của gần 50 tổ chức TCH quốc tế và tổ chức hoạt động TCH quốc tế, hàng nghìn TC trong các lĩnh vực khác nhau đã được xây dựng, ban hành và đưa vào áp dụng trong cuộc sống, góp phần làm lành mạnh hoá các hoạt động thương mại và thúc đẩy thương mại phát triển. Theo thống kê gần đây, khoảng 80% hoạt động thương mại thế giới chịu sự tác động của TC và quy chuẩn kỹ thuật.

Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng hiện đang có nhiều sự bất cập nảy sinh trong các quá trình xây dựng và áp dụng các TCQG làm cản trở sự phát triển thương mại một cách lành mạnh. Trong thực tế, nhiều quốc gia đã sử dụng các TC như là một hình thức bảo hộ mậu dịch tạo ra những rào cản kỹ thuật và sự không bình đẳng trong các hoạt động thương mại quốc tế. Điều này ngày càng thể hiện rõ nét khi mà hoạt động thương mại đang diễn biến theo xu hướng toàn cầu hoá với sự thay đổi đáng kể trong chính sách quan thuế tại nhiều quốc gia theo chiều hướng giảm tối đa nhằm tạo thuận lợi cho thương mại (điển hình là các nước trong các khu vực mậu dịch tự do của ASEAN, APEC, Bắc Mỹ, EU, v.v …).

Các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBTs) gồm các văn bản qui định bắt buộc tuân thủ và các TC mà một quốc gia áp dụng nhằm kiểm soát và hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm, hàng hoá không đáp ứng TC của quốc gia đó về môi trường, an toàn và sức khoẻ. Ở hầu hết các nước, số lượng các qui chuẩn kỹ thuật và TC bắt buộc áp dụng ngày càng tăng lên. Xu hướng này cho thấy phản ứng của các chính phủ trước đòi hỏi ngày một tăng của công chúng về mức độ đáp ứng TC chất lượng và an toàn của hàng nhập khẩu. Những đòi hỏi tương tự thường gây sức ép đối với các cơ quan có chức năng khi xây dựng và áp dụng những qui định chặt chẽ hơn. Chính vì vậy, đối với cùng một sản phẩm nhưng mỗi quốc gia có thể lại có các TC và các qui định riêng, khác biệt và điều này dẫn đễn các rào cản kỹ thuật trong lưu thông hàng hoá và thương mại. Một khi các đối tác thương mại không dựa vào các TC hài hoà, tương đương thì họ sẽ phải theo đuổi và trả giá cho việc đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật riêng biệt của các quốc gia và khu vực.

Để thực thi Hiệp định WTO/TBT, các quốc gia trên thế giới đều có các cách tiếp cận chung như sau:

- Thiết lập và phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia bao gồm các thành tố: TCH và đánh giá sự phù hợp (công nhận, chứng nhận, thử nghiệm, giám định);

- Hài hoà TC;

- Tham gia hoạt động TCH quốc tế và khu vực;

- Tham gia các Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp (MRA);

- Sử dụng các TCQG trong các quy chuẩn kỹ thuật.

Các cách tiếp cận trên có quan hệ nhân quả mới nhau, tác động lẫn nhau và được phối hợp với nhau để cùng hướng vào mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.

Ở cấp độ doanh nghiệp, các doanh nghiệp nếu muốn đạt được thành công trên thương trường cần phải giải quyết được những thách thức dưới đây:

- Vốn và lưu động tiền vốn;

- Năng lực tiếp thị;

- Rào cản kỹ thuật;

- Chất lượng.

Trong đó, “rào cản kỹ thuật” và “chất lượng” là hai thách thức có liên quan đến TCH.  

TCQT là tài liệu kỹ thuật được thiết lập trên cơ sở kết hợp thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm thực tiễn được chấp nhận bởi đa số các quốc gia-thành viên của Tổ chức TCH quốc tế tương ứng. TCQT do nhiều tổ chức TCH quốc tế  xây dựng và ban hành, điển hình là các tổ chức như ISO, IEC, CAC, ITU, trong đó ISO là tổ chức TCH lớn nhất hành tinh và là tổ chức phi chính phủ về TCH được WTO thừa nhận.

Như vậy, hài hoà TC chính là một giải pháp tiếp cận mang lại lợi ích cho cả đôi bên/nhiều bên (a win-win approach).

  • Tác động của hài hoà tiêu chuẩn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia

Tác động tích cực của hài hoà tiêu chuẩn

Dưới đây là những tác động tích cực cơ bản của hài hoà tiêu chuẩn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia được đúc rút từ nội dung của các Hiệp định WTO/TBT và WTO/SPS và thực tiễn hài hoà tiêu chuẩn của nhiều quốc gia trên thế giới: 

- Làm cho qúa trình trao đổi thông tin về TC chất lượng nhanh hơn, giúp các nhà kinh doanh có định hướng tốt hơn trong chiến lược về sản phẩm;

- Tạo ra sức ép đối với các cơ quan nhà nước trong việc xem xét, ban hành các qui chuẩn kỹ thuật của mình cho phù hợp với môi trường đầu tư theo hướng hấp dẫn hơn, bình đẳng hơn;

- Thúc đẩy việc cải thiện và nâng cao chất lượng hàng hoá để tạo tiền đề cần thiết cho quá trình hài hoà TC tiếp tục;

- Tạo tiền đề cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình doanh nghiệp;

- Tiết kiệm thời gian, kinh phí cho việc nghiên cứu xây dựng các TCQG khi đã có các TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến tương ứng;

- Tiệm cận trình độ khoa học-công nghệ của TCQG với trình độ khoa học-công nghệ tiên tiến của thế giới được thể hiện trong các TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến tương ứng;

- Đạt được sự chấp nhận quốc tế đối với các giải pháp TCH được chấp nhận trong TCQG hài hoà theo nguyên tắc thuận-nghịch của hài hoà tiêu chuẩn;

- Đảm bảo được tính tương thích với yêu cầu kỹ thuật của các nước khác, từ đó sản xuất ra các sản phẩm, hàng hoá đáp ứng yêu cầu của thị trường nước ngoài;

- Giúp các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất để xuất khẩu có cơ hội tốt để tiếp cận thị trường nhập khẩu và hạn chế được rủi ro do hàng hoá của họ không được chấp nhận vì không phù hợp với TC và các quy chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu;

- Đảm bảo sự tương đồng với những quy định được thiết lập dựa trên các TCQT về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo vệ môi trường liên quan đến sản phẩm;

v.v...

Một điều rất đáng quan tâm là: ở Châu Âu, TCQG của các nước thành viên EU đạt mức độ tương đương rất cao. Đây chính là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của thị trường thống nhất EU.

Tác động tiêu cực

Tuy có những tác động tích cực nêu trên, hài hoà TC cũng có một số tác động tiêu cực như sau:

- Các qui định quá cao của TCQG hài hoà được xây dựng do sức ép của các doanh nghiệp đầu tư hoặc do áp dụng mức độ hài hoà “hoàn toàn tương đương” (IDT) quá máy móc khi chấp nhận TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến làm cho một số TCQG hài hoà không có tính khả thi, thậm chí còn gây khó khăn đối với các tổ chức, doanh nghiệp áp dụng;

- Hài hoà tiêu chuẩn tràn lan đối với các đối tượng TCH đang có chính sách bảo hộ trong nước hoặc được sản xuất, kinh doanh với các điều kiện đặc thù (địa lý, pháp lý, hạ tầng, …) sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế quốc dân;

- Việc đẩy quá nhanh tiến độ hài hoà TC và mức độ hài hoà TC quá cao không thích hợp sẽ dẫn tới sự không chuẩn bị kịp để đáp ứng các yêu cầu của TC, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước, tạo điều kiện cho các sản phẩm, hàng hoá nước ngoài có điều kiện thâm nhập vào thị trường trong nước và dẫn đến sự thua thiệt của các doanh nghiệp trong nước;

Những tác động tiêu cực nêu trên không hề làm giảm phạm vi và mức độ của hoạt động hài hoà TC ở các nước trên thế giới mà chỉ là những khía cạnh cần lưu ý và cân nhắc khi triển khai hoạt động này mà thôi.

  • Những định hướng hài hoà Hệ thống TCVN với tiêu chuẩn quốc tế

Tuy trong những năm qua chúng ta đã có được những kết quả ngày càng khả quan hơn theo hướng tăng cường chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế thành TCVN, triển khai thực hiện các chương trình hài hòa tiêu chuẩn của các tổ chức khu vực mà nước ta là thành viên (APEC, ASEM, ASEAN), hài hòa thủ tục/quy trình xây dựng TCVN và các hoạt động có liên quan với các thủ  tục/quy trình đã được thừa nhận quốc tế,... song vẫn có những câu hỏi được đặt ra cần có lời giải đáp, chẳng hạn: Có nên sử dụng các văn bản pháp quy kỹ thuật (nay là quy chuẩn kỹ thuật) và TCVN làm công cụ để bảo hộ nền sản xuất-kinh doanh-dịch vụ của nước ta hiện đang còn yếu kém so với nền sản xuất-kinh doanh-dịch vụ của các nước khác trong khu vực và trên thế giới hay không hay nói một cách khác: có cần đặt ra vấn đề tăng cường hài hòa Hệ thống TCVN với tiêu chuẩn quốc tế trong giai đoạn hiện nay không? Cần xác định mức độ hài hòa, lĩnh vực ưu tiên hài hòa như thế nào cho hợp lý và phù hợp với mức độ phát triển và mục tiêu phát triển của nước ta? Nước ta có thể chủ động hài hòa tiêu chuẩn quốc gia của mình với tiêu chuẩn quốc tế  trong một số lĩnh vực hoặc đối với một số sản phẩm hay không? v.v...

Nếu đặt thành vấn đề: có cần phải thực hiện hài hòa tiêu chuẩn hay không trên cơ sở chấp nhận nhiều hơn nữa các tiêu chuẩn quốc tế thành TCVN trong bối cảnh hợp tác khoa học-công nghệ-kinh tế-thương mại hiện nay giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới thì câu trả lời chắc chắn sẽ chỉ là "có" chứ không thể là phương án lựa chọn giữa "có" và "không".  Tại sao vậy? Đơn giản là vì: Tiêu chuẩn hài hòa quốc tế là ngôn ngữ chung để hai bên (trong trường hợp hợp tác song phương) hoặc các bên (trong trường hợp hợp tác đa phương) căn cứ vào đó để đạt được sự thông hiểu khi thiết lập sự hợp tác/quan hệ đối tác. Việt Nam đã gia nhập  WTO, do đó một trong những việc phải làm là không tạo ra thêm những rào cản kỹ thuật trong thương mại thông qua các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật mới và xóa bỏ dần những hàng rào kỹ thuật hiện hành. Muốn vậy, chúng ta phải:

- Sử dụng nhiều hơn nữa TCQT làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật và xây dựng, công bố các TCVN;

- Sử dụng các hướng dẫn hoặc các khuyến cáo do các tổ chức TCH quốc tế ban hành làm cơ sở cho việc thiết lập những thủ tục đánh giá sự phù hợp;

- Tham gia tích cực vào các MRA. 

Việc xác định được cái "ngưỡng" đối với việc thực hiện hài hòa TCVN với tiêu chuẩn quốc tế không phải là việc dễ dàng. Hiện nay, tỷ lệ TCVN hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế mới vào khoảng gần 30%. Dự kiến rằng, đến năm 2010, tỷ lệ này sẽ đạt tới 40-45%.

Thế nhưng, nếu thực hiện hài hòa tiêu chuẩn một cách tràn lan, không định hướng thì hệ thống tiêu chuẩn sẽ trở thành một hệ thống rập khuôn và máy móc mà trong đó có những tiêu chuẩn không có tính khả thi, không phù hợp với trình độ công nghệ và trình độ quản lý của nền kinh tế quốc gia. Việc xác định những lĩnh vực ưu tiên cần hài hòa, chẳng hạn như: an toàn, vệ sinh, môi trường và những lĩnh vực mà chúng ta có khả năng hoặc cần phải "đi tắt, đón đầu" để đạt được trình độ quốc tế/khu vực (ví dụ: công nghệ thông tin, viễn thông,...) là vô cùng quan trọng để từ đó có thể lập ra lộ trình thực hiện cũng như tập trung nguồn lực cho việc thực hiện. Đồng thời, chúng ta còn phải vận dụng linh hoạt những phương pháp khác nhau để thực hiện hài hòa tiêu chuẩn một cách hợp lý với sự đồng thuận cao từ phía các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; các cơ quan quản lý và người tiêu dùng. Các hướng ưu tiên hài hòa tiêu chuẩn trong những năm tới (đến 2010) sẽ phải gắn bó chặt chẽ với định hướng phát triển thương mại của đất nước và dự kiến sẽ tập trung vào những lĩnh vực và đối tượng sản phẩm sau đây:

- Các lĩnh vực và sản phẩm ưu tiên hài hòa thuộc các chương trình hài hòa tiêu chuẩn của ASEM, APEC và ASEAN;

- Các sản phẩm và dịch vụ xuất khẩu là thế mạnh hiện nay và có tiềm năng của nước ta;

- Các sản phẩm nhập khẩu thiết yếu.

Căn cứ vào nhu cầu phát triển của đất nước và thực lực của nền kinh tế quốc gia, chúng ta còn cần phải đề ra những lĩnh vực chủ động hài hòa để từ đó đặt ra những định hướng cho việc tham gia vào hoạt động tiêu chuẩn hóa khu vực và quốc tế. Hiện nay cũng như trong những năm sắp tới, những lĩnh vực và đối tượng dưới đây là những lĩnh vực và đối tượng nổi bật đối với hoạt động chủ động hài hòa tiêu chuẩn của nước ta:

- Giao thông vận tải;

- Xây dựng;

- Bưu chính-viễn thông;

- Ngân hàng, tài chính;

- Công nghệ thông tin;

- Dịch vụ;

- Những vấn đề cơ bản (quản lý chất lượng, quản lý môi trường, đo lường và phép đo,...).

 

-------------------

Hài hòa tiêu chuẩn là tiền đề để hội nhập kinh tế. Việc chuyển đổi hệ thống TCVN trở thành một hệ thống tiêu chuẩn có trình độ khoa học-kỹ thuật và mức độ hài hòa cao với TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến sẽ góp phần đáng kể trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Việt Nam trên thị trường thế giới. Chính vì vậy, đây là một công việc cấp thiết và quan trọng đòi hỏi sự tham gia của các cấp, các ngành, cá nhân các nhà khoa học, công nghệ, quản lý và các giới có liên quan khác.

 

Nguyễn Minh Bằng

Nguyên Vụ trưởng Vụ Tiêu chuẩn - Tổng cục TCĐLCL

 

Website liên quan