Hôm nay: 28/08/2014 WELCOME TO TCVN-net - Chào mừng quý khách truy cập website TCVN-net

Số truy cập: 2939124 - Thời gian chuẩn:

English Giới thiệu  | Văn bản QPPL |  Email | HỎI ĐÁP | Góp ý | Liên hệ |

TRANG CHỦ

    TIN TỨC - SỰ KIỆN
    HỘI NGHỊ - HỘI THẢO
    BÀI VIẾT - CHUYÊN ĐỀ 
    HOẠT ĐỘNG CỦA CHI CỤC ĐỊA PHƯƠNG
 !
    HỌAT ĐỘNG VĂN THỂ
 

Home >> Nội dung website >> 45 năm hoạt động TCĐLCL >> BÀI VIẾT - CHUYÊN ĐỀ


Đo lường Việt Nam - thành tựu và phát triển
(Ngày đăng: 27/07/2007)

Pháp lệnh đo lường (sửa đổi) 1999 khẳng định mục tiêu nhiệm vụ hoạt động đo lường nước ta trong giai đoạn mới là: "góp phần đảm bảo công bằng xã hội; bảo vệ quyền lợi, lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân; nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa; sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, vật tư, năng lượng; đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ và môi trường; đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu quốc tế".

Trước nhu cầu và thách thức mới, những người làm công tác đo lường ở nước ta đều hiểu sâu sắc rằng, sự chính xác của các phép đo không những góp phần đảm bảo công bằng xã hội, quyền lợi, lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân mà còn là niềm tin cậy cho các công ty, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước; là cơ sở cho sự giao lưu, trao đổi của các quốc gia và khu vực trên thế giới.

Đo lường nước ta đã hình thành, phát triển từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trải qua hơn nửa thế kỷ, thể nói trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng, đo lường luôn  có những đóng góp xứng đáng cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước.

 

1. Xây dựng và phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia

Ở nước ta hệ thống chuẩn đo lường đã được bắt đầu xây dựng từ năm 1962. Khi mới thành lập, Viện đo lường lúc ấy chỉ có một số chuẩn về khối lượng, độ dài và dung tích do cơ quan đo lường Bộ nội thương lúc bấy giờ chuyển giao. Từ năm 1965 đến 1970, được CHDC Đức (trước đây) giúp đỡ, chúng ta đã có một hệ thống chuẩn đạt trình độ chuẩn hạng II, hạng III về độ dài, khối lượng, dung tích, tần số, điện, nhiệt, áp suất, lực độ cứng. Trong khoảng thời gian từ 1979, sau khi thành lập Trung tâm đo lường (Viện đo lường trước đây), hệ thống chuẩn của nước ta đã được tăng cường đáng kể thông qua các chương trình viện trợ của SAREC (Thuỵ Điển), UNDP (Liên hợp quốc), EU (Liên minh Châu Âu). Đặc biệt trong những năm gần đây, thông qua các dự án đầu tư tăng cường nâng cấp hàng năm của Nhà nước, nhiều lĩnh vực chuẩn đo lường như: khối lượng, độ dài, tần số thời gian, điện, dung tích lưu lượng, lực độ cứng... đã đạt tới trình độ cao như chuẩn tần số - thời gian là đồng hồ nguyên tử Cesium, độ chính xác  cỡ 10-12; chuẩn độ dài laze He-Ne  ổn định tần số bằng Iôt  (bước sóng l = 633 nm) với độ chính xác 2,5.10-11; quả cân chuẩn 1kg, độ chính xác 2.10-8; bộ chuẩn điện áp một chiều Fluke 7000, độ chính xác 1.10-6; bộ chuyển đổi AC/DC Fluke 792 A độ chính xác 1.10-6; bộ chuẩn điện trở Thomas độ chính xác 0,5 .10-6; chuẩn công suất - điện năng KOM.200.3, độ chính xác 5.10-5. Các điểm chuẩn nhiệt độ ITS -90 bao gồm điểm ba của nước; điểm ba thuỷ ngân tinh khiết; điểm nóng chảy của Gali; điểm đông đặc của Thiếc; điểm đông đặc của Kẽm; điểm đông đặc của Nhôm và điểm đông đăc của Bạc. Nhìn chung, đến nay bằng sự nỗ lực của cơ quan đo lường các cấp, được Nhà nước quan tâm đầu tư và thông qua các nguồn viện trợ quốc tế, chúng ta đã hình thành được hệ thống chuẩn đo lường từ Trung tâm Đo lường VN, các TTKT 1,2,3, các cơ quan Bộ, ngành đến các chi cục TC-ĐL-CL tỉnh thành phố trong cả nước. Mặc dù còn nhiều hạn chế về độ chính xác, phạm vi đo, lĩnh vực đo, môi trường bảo quản sử dụng khai thác... song, hệ thống chuẩn đo lường hiện có của ta giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý đo lường ở nước ta, đáp ứng được phần lớn các yêu cầu về đo lường thông dụng trong sản xuất, kinh doanh và đời sống, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, đảm bảo an toàn sản xuất, an toàn lao động và bảo vệ sức khoẻ con người.

Trong thời gian tới, hệ thống chuẩn đo lường của ta cần tiếp tục được đầu tư để thực sự trở thành hệ thống chuẩn đo lường quốc gia đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới.

Cùng với thế đi lên của đất nước, bước vào thiên niên kỷ mới, ngành đo lường đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu mới. Đó là: sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ dẫn đến các nhu cầu to lớn, ngày càng bức bách của các ngành kinh tế quốc dân đối với đo lường. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá và nền kinh tế  nước ta bước sang giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các dự án đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam tăng trưởng nhanh, nhu cầu cần có một hệ thống chuẩn đo lường quốc gia làm cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác lại càng  bức bách hơn. Hơn thế nữa, năm 2006 Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), đòi hỏi về tính minh bạch và thống nhất trong thương mại quốc tế cũng là một yêu cầu và thách thức đối với Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia.

Để đáp ứng nhu cầu cũng như thách thức mới, hệ thống chuẩn đo lường ở nước ta cần được tiếp tục đầu tư xây dựng phát triển dựa trên những nguyên tắc cơ bản như sau:

·        Đảm bảo tính phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới. Hệ thống chuẩn này phải đáp ứng được các yêu cầu về độ chính xác của đo lường thử nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, y tế, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, an ninh quốc phòng. Trong thời gian từ nay đến năm 2010, ưu tiên hoàn thiện hệ thống chuẩn quốc gia cho các đơn vị và đại lượng cơ bản: khối lượng (kg), độ dài (m), tần số - thời gian (s), điện (A), nhiệt (K), cường độ sáng (Cd) và lượng vật chất (mol) cũng như một số đơn vị đại lượng dẫn xuất quan trọng: áp suất (Pa), lực (N), dung tích (L), lưu lượng (m3/h), bức xạ ion hoá . Vấn đề ở đây là phải chọn trình độ chuẩn đo lường sao cho phù hợp với từng lĩnh vực để việc đầu tư là hiệu quả với chi phí thấp nhất. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm của Ngành đo lường nước ta.

·        Đảm bảo tính liên kết chuẩn tới hệ đơn vị quốc tế (SI).

Cơ sở khoa học của hệ thống chuẩn đo lường quốc gia là hệ đơn vị quốc tế SI.

Đại hội cân đo quốc tế lần thứ 11 (tháng 10 năm 1960) tại Paris đã thông qua "SI - hệ quốc tế về đơn vị". SI là một hệ vạn năng, tiên tiến, nhất quán, thống nhất hầu như trên toàn thế giới, một hệ đơn vị liên kết chặt chẽ với các hằng số cơ bản và các hằng số nguyên tử. Điều này tạo điều kiện để đạt được một sự ổn định lâu dài và tính vạn năng của việc sử dụng các đơn vị đo lường trong tất cả các lĩnh vực khoa học.

Tính liên kết chuẩn được thể hiện thông qua một chuỗi so sánh không gián đoạn của chuẩn với chuẩn quốc gia hoặc quốc tế. Theo yêu cầu đó, tất cả các phép đo có thể truy nguyên về SI và phải gắn với độ không đảm bảo được ước lượng một cách đúng đắn, chính xác và tin cậy.

Để đạt mục tiêu liên kết chuẩn tới hệ SI, tất cả chuẩn quốc gia hoặc chuẩn chính của từng lĩnh vực phải được liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với chuẩn quốc tế thông qua chương trình hiệu chuẩn định kỳ hoặc các chương trình so sánh đo lường.

Đến nay hầu hết chuẩn quốc gia hoặc chuẩn chính của từng lĩnh vực đều được hiệu chuẩn định kỳ tại các Viện đo lường quốc gia tiên tiến trong khu vực hoặc quốc tế như Viện đo lường Cộng hoà liên bang Đức (PTB), Viện đo lường Hàn Quốc (KRISS), Viện đo lường Trung Quốc (NIM), Viện đo lường úc (NML)...

Biện pháp quan trọng để duy trì tính liên kết chuẩn từ chuẩn quốc gia đến các chuẩn công tác tại nơi sử dụng là việc hình thành mạng lưới các trung tâm hiệu chuẩn khu vực, các phòng hiệu chuẩn được công nhận. Thông qua việc công nhận khả năng hiệu chuẩn, từng cơ sở hiệu chuẩn phải chứng tỏ năng lực quản lý và kỹ thuật của mình phù hợp các chuẩn mực nhất định. Ở nước ta hiện nay, chịu trách nhiệm về hoạt động công nhận phòng thử nghiệm, hiệu chuẩn là Văn phòng  công nhận chất lượng.

Nhờ đảm bảo tính liên kết chuẩn, chất lượng các phòng hiệu chuẩn, đo, thử nghiệm ngày một nâng cao. Tính đúng đắn, thống nhất và chính xác về đo lường trong sản xuất, kinh doanh, y tế, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, an ninh quốc phòng được đảm bảo.

·        Đảm bảo tính hội nhập với cộng đồng quốc tế

Thương mại trên thị trường quốc tế đang tạo ra nhu cầu ngày càng tăng về đảm bảo đo lường  nhằm tạo cơ sở cần thiết để hạn chế rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Xu hướng cạnh tranh thương mại hiện nay là hạn chế nhập khẩu sản phẩm, hàng hoá chưa được đảm bảo bằng giấy chứng nhận đo lường và thử nghiệm đã được bên thứ 3 thừa nhận. Do đó việc thiếu các khả năng đo lường thử nghiệm của các nước đang phát triển sẽ thu hẹp thị trường thương mại của họ. Đây là thách thức đòi hỏi cơ sở hạ tầng của đo lường quốc gia phải đảm bảo tính hôị nhập với đo lường quốc tế. Các Viện đo lường quốc gia đứng ở vị trí cao nhất trong sơ đồ thứ bậc về đo lường trong mỗi nền kinh tế và do đó, chứng nhận hiệu chuẩn do Viện đo lường quốc gia công bố phải được chấp nhận trên phạm vi quốc tế. Để đạt mục đích này, Viện cân đo quốc tế đã đưa ra một thoả thuận mang tính toàn cầu về "Công nhận lẫn nhau tính tương đương của chuẩn đo lường quốc gia và chứng chỉ hiệu chuẩn do các Viện đo lường quốc gia công bố". Ngày 14 tháng 10 năm 1999, 38 nước thành viên thuộc Công ước Mét đã ký kết thoả thuận mang tính toàn cầu này (viết tắt theo tiếng Anh là CIPM MRA). Đến nay 67 Viện đo lường quốc gia trên thế giới đã ký kết tham gia CIPM MRA. Ngày 16 tháng 9 năm 2004, được sự uỷ quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng,  Giám đốc Trung tâm đo lường Việt Nam đã ký chính thức tham gia CIPM MRA.

Đối chiếu trình độ chuẩn hiện tại của nước ta với trình độ chuẩn của một số nước trong khu vực, chúng ta thấy rõ hệ thống chuẩn hiện tại của nước ta còn bộc lộ những yếu kém, bất cập về tính đồng bộ, về phạm vi đo, độ chính xác, môi trường bảo quản, sử dụng... nhưng có thể khẳng định rằng chúng ta đã có những tiền đề tốt, vững chắc để có thể vươn lên xây dựng hệ thống chuẩn đo lường Việt nam với những chỉ tiêu đã được hoạch định trong lộ trình mà quy hoạch phát triển hệ thống chuẩn đo lường Việt nam tới năm 2010 đã đề ra.

Hệ thống chuẩn đo lường với sự dẫn xuất, liên kết tới các chuẩn quốc tế và các phương tiện đo sử dụng trong cả nước được xem như là một trong những mắt xích không thể thiếu của cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, quyết định sự tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy khoa học công nghệ, đảm bảo chắc chắn các yếu tố năng suất chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập của Việt nam vào các nền kinh tế khu vực và thế giới.

2. Tăng cường công tác tổ chức kiểm định và hiệu chuẩn phương tiện đo.

Qúa trình hình thành và phát triển hệ thống chuẩn đo lường nước ta gắn liền với qúa trình hình thành và phát triển các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo trong cả nước.

Pháp lệnh đo lường năm 1990 và pháp lệnh đo lường (sửa đổi)1999 đều đã giành một chương cho nhiệm vụ kiểm định phương tiện đo. Hoạt động này nhằm đảm bảo phương tiện đo sử dụng vào mục đích định lượng hàng hoá hay dịch vụ trong thương mại, các phương tiện đo liên quan đến an toàn, bảo vệ sức khoẻ và môi trường, các phương tiện đo tham gia giám định tư pháp hoặc phục vụ các công vụ khác của Nhà nước phải được kiểm định.

Để thực hiện kiểm định/ hiệu chuẩn phương tiện đo, đến nay chúng ta đã xây dựng được hệ thống các cơ sở kiểm định/ hiệu chuẩn phương tiện đo từ trung ương đến địa phương bao gồm các cơ sở kiểm định/ hiệu chuẩn thuộc cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường và các cơ sở được Tổng cục TCĐLCL công nhận tại các ngành kinh tế trên cả nước. Trung tâm Đo lường VN và các trung tâm kỹ thuật 1,2,3 thực hiện việc kiểm định/hiệu chuẩn đối với chuẩn đo lường và các phương tiện đo có độ chính xác cao. Các chi cục TC-ĐL-CL tỉnh, thành phố và các cơ sở thuộc các ngành kinh tế khác nhau thực hiện kiểm định/hiệu chuẩn đối với những phương tiện đo thông dụng, phổ biến được sử dụng với số lượng lớn gắn liền với thực té sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng .....

Hệ thống kiểm định/hiệu chuẩn phương tiện đo thực sự đã phát huy được tác dụng, giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đo lường trong phạm vi cả nước để đo lường được thống nhất và chính xác, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi và lợi ích của toàn dân, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá; sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, vật tư, năng lượng, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu quốc tế....

Với hệ thống kiểm định/hiệu chuẩn phương tiện đo hiện có, hàng năm chúng ta đã đảm bảo kiểm định/hiệu chuẩn được hàng triệu phương tiện đo, trong đó đặc biệt chú trọng tới các phương tiện đo sử dụng trong các ngành kinh tế mũi nhọn; phục vụ mục đích giao nhận, buôn bán; phục vụ  mục đích bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho người dân.

3. Hoạt động nghiên cứu khoa học về đo lường

Cùng với việc xây dựng và phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, hoạt động nghiên cứu khoa học ứng dụng đo lường trong sản xuất, đời sống và bảo vệ đất nước luôn luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, kể từ khi thành lập Cơ quan Đo lường Trung ương, hoạt động nghiên cứu ứng dụng đo lường trong sản xuất, đời sống và chiến đấu đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Đo lường đã góp sức trong cuộc kháng chiến chống giặc Pháp - Mỹ, từ hoạt động đảm bảo thông tin liên lạc cho tiền tuyến đến việc rà phá bom mìn thuỷ lôi và trên những trận địa pháo cao xạ, tên lửa của bộ đội phòng không không quân, đâu đâu cũng  có sự tham gia của kỹ thuật đo lường điều khiển.

  Trong thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đo mới đẫ phát huy tác dụng trong sản xuất kinh doanh, đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá. Đặc biệt, cùng với sự phát triển nhanh như vũ bão của công nghệ vi điện tử, công nghệ tin học, các nhà khoa học đo lường của ta đã nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật mới, đưa ứng dụng của đo lường tự động vào các ngành kinh tế mũi nhọn như ngành điện tử bưu chính viễn thông, ngành điện lực Việt nam, ngành khai thác dầu khí, ngành mỏ địa chất, ngành sản xuất xi măng phân bón, ngành khí tượng thuỷ văn…, chưa kể  đến rất nhiều các công trình nghiên cứu về đo lường đang được ứng dụng trong y tế, bảo vệ môi trường và an ninh, quốc phòng.

Ghi nhận những thành tựu to lớn nói trên, nhiều Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Đo lường toàn quốc đã được tổ chức để các nhà khoa học làm công tác đo lường trong cả nước được trình bày, thảo luận và đánh giá những thành tựu nghiên cứu của mình. Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Đo lường toàn quốc lần thứ nhất được UB KHKT nhà nước (Tổng cục TC-ĐL-CL) tổ chức năm 1985 tại Hà nội nhân kỷ niệm 35 năm ngày Bác Hồ ký sắc lệnh 8/SL về đo lường. Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Đo lường toàn quốc lần thứ hai được tổ chức năm 1990, năm ghi nhớ Pháp lệnh đo lường đầu tiên của nước ta được Chủ tịch nước ký công bố áp dụng, Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Đo lường Việt lần thứ ba ( 2001) được tổ chức trong không khí chuẩn bị kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Tiêu chuẩn -Đo lường-Chất lượng Việt nam và Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Đo lường Việt lần thứ tư ( 2005) được tổ chức tại Hà nội nhân kỷ niệm 55 năm ngày Bác Hồ ký sắc lệnh 8/SL về đo lường.

4. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đo lường.

Đo lường Việt nam luôn luôn tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức đo lường khu vực và quốc tế. Ngay từ khi mới thành lập, Đo lường Việt nam đã nhận được sự viện trợ của các cơ quan đo lường CHDC Đức, Liên Xô cũ, Trung Quốc, của chính phủ Thuỵ Điển, của UNIDO, UNDP, và ngày nay là sự giúp đỡ của Viện đo lường trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và  EU.

Từ năm 1992, Việt nam đã chính thức tham gia chương trình Đo lường Châu á - Thái Bình Dương APMP. Với 22 thành viên chính thức, APMP đã thực sự trở thành một tổ chức đo lường có nội dung hoạt động khá phong phú nhằm tăng cường sự hợp tác về chuẩn đo lường và nghiệp vụ đo lường trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. APMP có quan hệ mật thiết với Viện Cân đo quốc tế và các tổ chức đo lường khu vực khác như NORAMET ở Bắc Mỹ, SIM ở Châu Mỹ, EUROMET ở Châu Âu.

Năm 1994, Việt nam đã tham gia tổ chức Đo lường Hợp pháp Quốc tế (thành viên thông tấn).

Năm 1995, Việt nam đã tham gia Diễn đàn Đo lường Hợp pháp Châu Á - Thái Bình Dương ( APMF).

Đặc biệt với tư cách là thành viên chính thức APMP, Việt nam đã chủ trì một số chương trình so sánh chuẩn đo lường ( lực độ cứng, khối lượng...) với sự tham gia của các cơ quan đo lường Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Pakistan, Australia, ...; Các chương trình này đều kết thúc tốt đẹp.

5. Hướng phát triển của Đo lường Việt Nam

Tại Hội nghị khoa học kỹ thuật đo lường toàn quốc lần thứ tư (2005), Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong đã phát biểu ý kiến và định hướng phát triển đo lường Việt Nam:

-Thứ nhất, nắm vững chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đo lường, thực hiện tốt tinh thần của Pháp lệnh đo lường đã được UBTV Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước phê duyệt, ban hành cuối năm 1999. Chúng ta phải phối hợp và tổ chức hoạt động các cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường từ trung ương đến địa phương một cách hợp lý và hiệu quả hơn, xây dựng được một hệ thống kiểm định, hiệu chuẩn hiệu lực hơn để đo lường được thống nhất, chính xác phục vụ thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển kinh tế đất nước.

-Thứ hai, xây dựng và phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, coi đây là hạ tầng cơ sở không thể thiếu của đo lường. Hệ thống này phải đảm bảo tính phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới, đảm bảo tính liên kết chuẩn tới hệ đơn vị quốc tế SI và đảm bảo tính hội nhập với đo lường khu vực và quốc tế.

-Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đo lường khoa học và đo lường công nghiệp, nhanh chóng đưa những tiến bộ mới tiên tiến nhất của kỹ thuật đo vào  ứng dụng trong sản xuất, giúp các nhà sản xuất một cách hiệu quả trong quá trình kiểm tra và duy trì chất lượng sản phẩm. Cần nhận thấy rằng một trong những đối tượng quan trọng của công tác quản lý đo lường chính là các doanh nghiệp, nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm-dịch vụ, nơi thể hiện rõ nhất hiệu lực, hiệu quả của tất cả các mặt quản lý nhà nước.

-Thứ tư, trong xu thế nền kinh tế Việt Nam đang mở rộng hợp tác thương mại với các nền kinh tế trong khu vực và quốc tế như trong Hiệp hội các quốc gia Đông nam á (ASEAN), trong diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á-Thái bình dương(APEC), trong Hội nghị hợp tác á-Âu (ASEM), trong Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và  trong Tổ  chức thương mại thế giới (WTO), hoạt động đo lường nói riêng và tiêu chuẩn đo lường chất lượng nói chung phải trở thành một trong những động lực quan trọng cho việc hài hoà hoá, tiêu chuẩn hoá trên cơ sở công nhận, thừa nhận lẫn nhau các kết quả đo lường, thử nghiệm trên phạm vi khu vực và quốc tế, tạo tiền đề thuận lợi hoá trong thương mại và giao lưu quốc tế.

Cuối cùng, một vấn đề nữa cần đặc biệt quan tâm là chăm lo củng cố và đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ làm công tác đo lường. Đây là nguồn lực quan trọng và quyết định để đo lường tiếp tục duy trì và phát triển.

TS. Vũ Khánh Xuân

Trung tâm Đo lường Việt Nam

Số lần đọc: 10592  Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này

 ® Yêu cầu ghi rõ nguồn TCVN-net khi sử dụng thông tin từ bài viết này

BÀI VIẾT - CHUYÊN ĐỀ
  •   Báo cáo tóm tắt thành tích 45 năm hoạt động của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (1962 - 2007)
  •   Hoạt động TCĐLCL trong nỗ lực hội nhập quốc tế
  •   Hoạt động thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng
  •   Phát triển và đổi mới Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam
  •   Tiêu chuẩn đo lường chất lương- các cam kết trước thềm hội nhập
  •   Quản lý chất lượng - cốt lõi của sự phát triển bền vững
  •   QUACERT với hoạt động đánh giá sự phù hợp trong thời kỳ hội nhập
  •   Tăng cường hài hòa tiêu chuẩn để hội nhập mạnh mẽ hơn nữa với nền kinh tế thế giới
  •   Thoả thuận công nhận lẫn nhau toàn cầu về đo lường và tiến trình tham gia của đo lường việt nam
  •   Đo lường trong hội nhập kinh tế quốc tế
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    © 1998-2011 - Bản quyền thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

    Số 8 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội

    Đt: 04-37562608 - Fax: 04-38361556 - Email: tttt@tcvn.gov.vn